|
|
Khu đô
thị cổ nằm bên tả ngạn sông
Thu Bồn, cách Đà Nẵng 32 km về phía
Đông Nam, trước c̣n có tên là Hải
Phố, Hoài Phố, Phai Phố v.v... thời
xa xưa vốn là cửa bể Đại
Chiêm. Ngay từ cuối thế kỷ 16 đầu
thế kỷ 17, Hội An đă là nơi
đô hội, trên bến dưới
thuyền, buôn bán nhộn nhịp. Nhiều thương
nhân nước ngoài như Nhật Bản,
Trung Quốc, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Hà Lan
v.v... đă đến đây lập thương
điếm, kinh doanh xuất nhập khẩu.
Do chính sách bế quan toả cảnh của
nhà nước phong kiến, đến
cuối thế kỷ 17, Hội An dần
dần trở nên vắng vẻ tiêu điều.
Cả một thời đông vui sầm
uất nay chỉ c̣n vang bóng trong khu di tích
đô thị cổ xưa được
bảo tốn khá nguyên vẹn, nằm sát ven
sông, phía nam thị xă Hội An ngày nay.
Khu di tích
đô thị cổ Hội An rộng
khoảng 2 km vuông, gồm nhiều phố
nhỏ, hẹp ngắn, chia cắt nhau như
bàn cờm với những ngôi nhà một
tầng hoặc hai tầng, mái lợp ngói
cổ, tường hồi sát mái, cao thấp
lánh, đứng tựa vào nhau ở hai bên
đường phố. Khung nhà bông gỗ
tốt, có chạm trổ hoa lá, chim thú..., hàng
hiên thường lắp "v́ vỏ cua",
mặt trước nhà là cửa hiệu; ḷng
nhà khá sâu, nhiều khi ăn thông sang tận
phố sau - phố bến sông, nơi
thuyền bè cập bến dốc dỡ hàng
hoá. Mùa nước lên, nhiều đường
phố bị ngập, phải dùng thuyền
con đi lại.
Các khách thương
Nhật Bản, Trung Hoa (người Minh Hưng)
sang lập nghiệp ở đây khá đông,
c̣n để lại một số chùa
miếu, cầu quán...
Miếu Quan Công
do người Minh Hưng xây dựng từ
thế kỷ 17 gồm bốn ngôi nhà cao to vây
quanh một khoảng sân, dùng gỗ lớn làm
cột và bộ khung đỡ mái, chạm
trổ tỉ mỉ, có theo nhiều hoành phi câu
đối ghi lại văn chương
của nhiều danh sỹ người
Việt. Miếu có tượng Quan Công, sơn
son thiếp vàng, hai bên là tượng Châu Xưng,
Quan B́nh đứng hầu.
Chùa Quan Âm
ở trong cùng một khuôn viên với
miếu Quan Công, cách một sân nhỏ. Có
bốn cột trụ làm cổng, gắn
với tường hoa vây quanh h́nh thành
cửa Tam Quan. Chùa có bộ cánh cửa làm bông
gỗ quư chạm rồng uốn khúc, "bát
bửu", hàng ván gió chạm bát khá
cầu kỳ.
Cầu chùa
do người Nhật Bản xây dựng,
bắc qua một lạch nhỏ ăn thông
với sông Thu Bồn. Cầu dài 18m, rộng
3m làm theo kiểu "thượng gia hạ
kiều", trên có mái lợp ngói cổ. Mái
cầu kéo dài che kín 7 gian ḷng cầu,
được nâng đỡ bởi hai hàng
cột thanh mảnh dưới ghép lan can.
Nền cầu ngày xưa cao vồng lên, lát vát
làm lối đi lại. hai bên được
tôn cao, làm kệ bày hàng để bán.
Giữa ḷng cầu về mặt Bắc có
một ngôi chùa nhỏ. Bộ cánh cửa
"thượng song hạ bản" (trên
chấn song dưới ván gỗ), phía trên có
gắn hai mắt cửa chạm trổ tinh
vi, ngăn cách cầu với chùa. Trong chùa
thờ tượng Bắc Đế cưỡi
cầu long. Tương truyền cầu làm
trong ba năm liền mới xong, từ năm
Thân đến năm Tuất, cho nên ở hai
đầu cầu có gắn đôi tượng
khỉ (Thân) và đôi tượng chó (Tuất)
bông gỗ, ngoài quét sơn màu đă xám.
Một bức hoành phi đề ba chữ
lớn "Lai Viễn Kiều" ghi lại
tên cầu do Chùa Quốc Nguyễn Phúc Chu
đặt vào năm 1719 khi ông qua thăm
Hội An.
Ở An
Hội c̣n có chùa Bà Mụ (chùa Bà Lôi)
của người Chăm, với kiến trúc
Chàm, thờ một sư tử cái đắc
Đạo.
Từ Đà
Nẵng, theo quốc lộ 1, xuôi về
thị xă Quảng Nam, rẽ quặt sang phía
Đông, đi khoảng 6km nữa là tới
khu di tích đô thị cổ nổi tiếng
này. Cũng có thể theo một con đường
khác, quanh co hơn nhưng kỳ thú thơn,
đó là con đường nhỏ chạy
ven bờ biển, từ Đà Nẵng qua khu
thắng cảnh Ngũ Hành Sơn; xă Điện
Ngọc rồi đến Hội An, dài
khoảng 23 km.
Đến
Hội An, du khách có thể vào thăm chợ,
mua các mặt hàng thủ công nghiệp và các
loại sơn hào hải vị nổi
tiếng của vùng Quảng Nam - Đà
Nẵng, thăm vườn cau, vườn
quả, vườn trầu xanh tươi, thơ
mộng trù phú ở Băi Giữa, cách chợ
có vài trăm mét và một nhịp cầu thăm
cửa Đại và tắm biển
|
 |
|
S«ng
Thu Bån - Héi An
|
 |
|
Chî
Næi
|
 |
|
Tîng
Voi
|
|
|