|
|
CHÙA
THIÊN MỤ
Một
trong những kiến trúc tôn giáo cổ và
đẹp nhất ở Huế, dựng trên
đồi Hà Khê, bên tả ngạn sông Hương,
cách trung tâm thành phố 7km về phía Tây. Khuôn
viên chùa có tường bao bọc, chia làm hai
phần; phía trước giáp bờ sông,
nổi bật trên toà bảo tháp, bia to chuông
lớn, hệ thống cấp bậc đồ
sộ; phía sau là khu vực điện
thờ, điện Đại Hùng, điện
Địa Tang, điện Quan Âm. nhà trai nhà
khách. Thông xanh, cây lạ hoa quý làm tăng thêm
vẻ đẹp của chùa.
Chùa
vốn có từ thế kỷ 14. Tên chùa
được gắn với một huyền
thoại được lưu truyền
rộng rãi, kể lại sự tích một bà
cụ người nhà trời mặc "xiêm
lục áo đỏ, tóc bạc phơ
hiện lên trên đồi Hà Khê, phán
rằng: Rồi đây sẽ có một
vị chân chùa đến nơi này dựng
chùa thờ phật để tu linh khí,
cố long mạch".
Khoảng
năm 1601, Nguyễn Hoàng tức chùa tiên -
vị chùa Nguyễn đầu tiên ở
Đàng trong (lúc ấy về hình thức
vẫn nhận chức quan của triều
đình Lê-Trịnh, trấn thủ đất
Thuận Hoá kiêm trấn thủ đất
Quảng Nam) đi qua nơi này, thấy địa
thế đẹp, hàng dãy đồi chập
trùng như rồng uốn khúc bên sông, nghe
sự tích kể trên, tự nhận mình là
vị chân chùa được bà cụ người
nhà trời nói đến, bèn ra lệnh cho người
xây dựng lại chùa to đẹp hơn và
chính thức đặt lại tên chùa là
"Thiên Mụ Tự" (chùa Thiên Mụ).
LĂNG
TẨM Ở HUẾ
Cùng
với hệ thống thành quách đồ
sộ và các lâu đài cung điện nguy nga
lộng lẫy bên bờ sông Hương thơ
mộng, lăng tẩm các vua nhà Nguyễn
trầm mặc nưng mình dưới bóng thông
xanh đã góp phần tạo nên cảnh
sắc hết sức độc đáo
của chốn cố đô. Nhà Nguyễn có
13 đời vua, nhưng do những hoàn
cảnh lịch sử phức tạp và có
phần bi tráng nữa, nên hiện nay chỉ
có 8 lăng, với những nét riêng biệt
và vẻ đẹp khác nhau.
LĂNG
GIA LONG
Gia
Long lên ngôi năm 1802, sau một thời gian dài
tìm kiếm cát địa (đất tốt)
mãi đến năm 1814 mới bắt đầu
cho xây dựng lăng; từ việc chọn
đất, và kiểu... nhà vua đều
đích thân tham gia. Năm 1819, Gia Long qua đời,
năm sau (1820) việc xây lăng được
hoàn thành. Lăng mang tên Thiên Thọ, cách kinh
thành Huế 16 km (theo đường thuỷ
là 19km), nằm theo hướng Bắc Nam
giữa một vùng núi non hoang sơ, xanh
rợp bóng thông cổ thụ, có 36 ngọn núi
châu tuần xung quanh, hai bên là nguồn
hữu Trạch, nguồn Tả Trạch như
vòng tay ôm ấp.
LĂNG
MINH MẠNG
Khởi
công xây dựng vào năm 1840 sau hàng chục
năm lựa chọn đất tốt: năm
1843, gần 3 năm sau khi vua Minh Mạng qua
đời lăng mới được xây
xong mang tên Hiếu Lăng cách kinh thành 12 km (vùng
đồi Cẩm Khê, nhìn ra ngã ba Bông
Lẵng), chiếm một diện tích 26 ha,
gồm trên 30 công trình kiến trúc lớn
nhỏ.
LĂNG
TỰ ĐỨC
Cách
kinh thành chừng 7km, giữa một rừng
thông cùng với nhiều cây cao bóng cả khác.
Cả khu vực lăng được vây
quanh bông một vòng là thành đoạn
thẳng, đoạn gấp khúc, tạo nên
một hình đa giác, mở bốn cửa,
hiện nay ra vào lăng thường qua
cửa Vụ Khiêm ở mặt bên. Mặt chính
có hai cửa (cửa Tự Khiêm và cửa Thượng
Khiêm) cách nhau một quãng ngắn, được
nối liền bằng một bình phong.
KINH
THÀNH HUẾ
Xây
dựng theo kiểu thức truyền thống
phương Đông với ba vòng thành: Phòng
Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, lấy
núi Ngự làm tiền án, Cồn Hến và
Cồn Dã Viên làm "Tà Long hữu hổ";
ba mặt Bắc, Đông Tây có sông đào
Hộ thành hà và cùng với sông Hương
ở mặt Nam tạo thành thế "Tứ
thuỷ triều quy', hội đủ các
ưu thắng của chốn Đế dô
theo thuật phong thuỷ. Như hưởng
kiến trúc V"-Băng (kiểu kiến trúc
thành luỹ nổi tiếng của kỹ sư
Vauban ở Châu Âu trong các thế kỷ 17, 18)
tuy có nhưng bị lún chìm đi trong
tổng thể kiến trúc. Phòng thành (còn
được gọi dưới cái tên là
kinh thành) có mặt bằng hình vuông với
diện tích khoảng 5km2. Tường thành có
chu vi 11km, cao gần 7m, dày 21m (ở giữa là
thành đất nện dày 18m, mặt trong và
mặt ngoài xây ốp gạch vồ nung giá);
phía đông Bắc có một thành phụ,
nhỏ gọi là Trấn Bình đài (hoặc
thành mang cá); có bố trí 21 ụ pháo đài
và nhiều công sự phòng ngự. Toà thành
đồ sộ với những công trình
kiến trúc bên trong được xây
dựng năm 1805, sau nhiều đợt thi công,
mãi tới năm 1832 mới tạm hoàn
tất, có thời hành ngày huy động
tới 8 vạn dân phu binh lính phục
dịch
|
 |
|
Chïa
Thiªn Mô
|
 |
|
Bao
tang Minh mang
|
 |
|
Nói
B¹ch m·
|
|
|