Ninh Binh - Hoa Lu

Trên cánh đồng chiêm bát ngát một màu xanh mát mắt của hai huyện Gia Viễn và Gia Khánh (thuộc tỉnh Ninh B́nh cũ nay là Hà Nam Ninh), 99 ngọn núi đá vôi là nhà nối tiếp nhau kéo dài như những bức tường thành, đôi chỗ có ngọn đột ngột vươn cao như toà tháp canh khổng lồ, sừng sững vây quanh những thung lũng rộng thoáng, có sông ng̣i quanh co uốn khúc, có hồ đầm mặt nước lấp loáng như gương in bóng cảnh núi non hùng vĩ và bầu trời khoáng đăng. Đó là thắng cảnh "Hạ Long trên cạn" của Hà Nam Ninh, nơi có khu di tích Hoa Lư - chón kinh đô của nước Đại Cồ Việt thủa xưa.

Cồ Việt quốc dương Tống Khai Bo
Hoa Lư đô thị Hán Trường An

(Nước Đại Cồ Việt ngang hàng với nhà Tống đời Khai Bo, Hoa Lư là kinh đô Đại Cồ Việt cũng như Tràng An là kinh đô nhà Hán vậy).

Đối câu đối trên cột đền vua Đinh ở Hoa Lư đă nói lên ḷng tự hào của tổ tiên ta trước tầm vóc lớn lao của tổ quốc bước vào giai đoạn độc lập tự chủ sau hàng ngàn năm bị đô hộ và không ngừng chống đô hộ.

Theo những ghi chép trong sử sách cũ thị cố đô Hoa Lư nằm trên địa phận của hai xă Trường Yên Thượng và Trường Yên Hạ ngày nay. Dựa vào h́nh thế núi non sông nước, người xưa đă đắp thành luỹ vây quanh đô thành. Tường cao từ 8 đến 10m, đắp bông đất, bó gạch lớn, có in chữ "Đại Việt quốc quân thành chuyên". Thành Hoa Lư bao trùm một diện tích khoảng 300 hecta, chia làm 2 khu vực; Thành ngoại ở phía Đông và Thành nội ở phía Tây, ăn thông với nhau qua một ngách núi gọi là Quèn Vơng. Giữa hai khu vốn có cổng lớn xây bông đá, cầu đá bắc qua hào sâu, mang tên Cầu Đông, Cầu Dền... Từ thời Đinh đến tiền Lê, qua 41 năm (968-1009), nhiều cung điện lầu gác được xây dựng ở trong thành. Theo Đại Việt sử kư toàn Thư th́ vua Lê Đại Hành đă cho xây dựng điện "Bách Bo Thiện Tuế ở núi Đại Vân, cột đá vàng bạc, làm nơi coi chầu, bên Đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Tử Hoa, bên tả là điện Bồng Lai, bên Hữu là điện Cực Lạc. Tiếp đó là Lầu Đại Vân, điện Trường Xuân làm nơi vua nghỉ, bên cạnh điện Trường Xuân dựng điện Long Lộc, mái lợp ngói Bạc". Thành ngoại cũng có nhiều công tŕnh kiến trúc, dinh thự, kho tàng v.v... Quanh khu vực này c̣n di tích chùa Một Cột với cột Kinh Lăng nghiêm h́nh trụ tám cạnh dựng năm 988; hàng trăm cột kinh phật của Nam Việt Vương Đinh Liễn tiến cung, đền thờ công chúa Phật Kim con vua Đinh Tiên Hoàng gả cho sứ quân Ngô Nhật Khánh, sau Y làm phản, công chúa nhảy xuống giếng tự vẫn; An Tiêm vốn là nơi nuôi hổ báo để trị tội đồ, sau biến thành nơi thờ phật, núi cột cờ cao hơn hai trăm mét, nơi cắm cờ của triều đ́nh Đại Cồ Việt, Núi Chợ, Ao Giải, Hang Muối, Hang Tiền, Đấu Đong Quân, tuyến đường lát gạch in hoa cúc, phượng múa, hai bên có nhiều cột lim, nối liền núi Cột Cờ với núi Thanh Lân ở tuyền thành phía Đông... Năm 1010, vua Lư Thái Tổ dời đô về Thăng Long, có cho dựng lại ở kinh đô mới một số cầu, cổng, đền chùa... vốn có ở Hoa Lư như chùa Một Cột, Cầu Đông, Cầu Dền...

Về thăm Hoa Lư, từ Hà Nội theo quốc lộ 1 đến cây số 86 rẽ theo con đường có từ xưa mang tên đường Tiên Yết, đi bộ khoảng 4km nữa là vào tới khu di tích. Cách quốc lộ khoảng 1km là động Thiên Tôn - trạm gác tiền tiêu của cố đô, nằm dưới chân núi Dũng Đương. Động chia làm hai phần. Phần ngoài rộng khoảng 200m vuông, nền phẳng, trần cao, giữa có một hương án khá đồ sộ, chạm đẹp. Bên trái là bệ thờ 18 vị la Hán. Bên phi treo quả chuông lớn đúc thời Cảnh Hưng. Phía sau hương án là một hành lang ngắn ăn thông sâu vào một hang nhỏ tạo thành h́nh chuôi vồ, được coi là hậu cung có án thư, bệ thờ, long đ́nh, đôi rồng chầu, toàn bằng đá cả. Trong long đ́nh có tượng Trấn Vũ Thiên tôn bằng đồng, cao bằng người thật, nặng khoảng 4 tạ, đứng chống gươm trên lưng rùa đá, trông oai nghiêm đường bệ. Phía sau long đ́nh có một giếng tṛn gọi là giếng Rồng, quanh năm có nước, nghe nói có mạch ngầm ăn thông ra tận sông Giám. Từ động Thiên Tôn đi tiếp khoảng 2km sẽ đến Quèn Ổi - cửa ngơ phía đông của đô thành Hoa Lư.

Tương truyền đền thờ vua Đinh và đền thờ vua Lê được xây dựng trên nền cung điện chính thủa xưa, nằm ở trung tâm khu vực Thành Ngoại. Đền vua Đinh tựa lưng vào dăy núi Phi Vân, phía trước là Mă Yên Sơn (núi Yên Ngựa). Theo lời các cố lăo ở địa phương th́ đền được xây từ thời Lư, quay về hướng Bắc. Sau đợt trùng tu lớn vào thời Hậu Lê (cuối thế kỷ 17); đường mới hướng về phía Đông như hiện nay. Đền làm theo kiểu "nôi công ngoại quốc". Ngoài cùng là cổng lớn, được gọi là "Ngọ môn quan", tiếp đó là hồ sen, núi ǵ, rồi đến Nghi môn ngoại (cổng ngoài). Một con đường lát gạch, hai bên là vườn hoa, dẫn tới hai cột trụ cao có đôi câu đối nên nêu bật địa thế hiểm trở của núi non sông nước đất Hoa Lư. Gần đó là tấm bia lớn, dựng năm Chính Hoà thứ 17 (1696), ca tụng công chức vua Đinh. Qua hai trụ cổng là đền sân rồng. Giữa sân rồng là một sập rồng, đặt trên bệ cao dài 1m90, rộng 1m40; mặt sập và thành sập là nguyên một khối đá. Một con rồng lớn có sừng giữa trán, tai như tai trâu, râu xoắn dưới cằm, bờm hất ngược, vùng vẫy trong mây, choán gần hết mặt sập. Viền quanh sập, trên chân sập kiểu "chân quư dạ cá" là các h́nh lâu đài rồng, phượng, hoa chanh, lá đề, vân mây..., ngoài ra c̣n có cả tôm tép, cua cá, nghè đá, trông rất sống động. Đền gồm ba lớp: ngoài là toà bái đường; giữa là gian thiêu hương thờ Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu là bốn "khai quốc công thần", cột trụ của triều đ́nh nhà Đinh. Lớp trong cùng là toà chính cung, chính giữa có tượng Đinh Tiên Hoàng đúc bằng đồng, khoác mũ áo thiên tử, ngồi trên bệ rồng. Bên trái là tượng Nam Việt Vương Đinh Liễn, bên phải là tượng Đinh Toàn, Đinh Hạng Lang, đều là con của vua. Phía trước tượng Đinh Tiên Hoàng có một khoảng trống, tương truyền xưa kia có tượng Đỗ Thích (kẻ ám sát nhà vua và Đinh Liễn) quỳ ở đó. Hàng năm, đến ngày kỷ niệm sự biến bi thảm này,
( tháng 10 âm lịch ) tượng Đỗ Thích lại bị đem ra giữa sân rồng để dân chúng xúm vào quất roi sỉ vả.

Đền vua Đinh cách đền vua Lê khoảng nửa cây số, bên một nhánh của sông Hoàng Long, dựa vào núi Đ́a, phía trước là núi Đền, kiến trúc xây dựng về tổng thể cũng giống như đền thờ vua Đinh, cũng có Nghi Môn ngoại, hồ sen, núi gi, Nghi Môn nội, Sân Rồng, Sập Rồng, bia ca tụng công đức của vua Lê Đại Hành dựng năm Hoằng Định thứ chín ( 1608), ba toà bái đường thiêu hương - chính cung. V́ ít được trùng tu do quan niệm "coi trọng Đinh, coi thường Lê" của các triều vua sau nên đền vua Lê c̣n giữ được nhiều kiến trúc trang trí cổ . Đặc biệt có sáu đầu bay chạm sáu con rồng, mỗi con một dáng vẻ, con vờn ngọc, con đấu hổ, con phun lửa.........rất sinh động và bộ cánh cửa toà chính cung có h́nh độc long trên nền gấm chiện hoa chanh, chạm trổ rất công phu. Ngoài ra, cũng như bên đền vua Đinh nhiều mang chạm trổ trên cốn, ván bưng, con chồng giường, trên điểm bia, bệ đá... với các h́nh rồng ổ, rồng đàn, tôm, cua, khỉ, sóc... đă thể hiện rơ cảm hứng nghệ thuật phóng khoáng và tài năng điêu luyện của các nghệ nhân đương thời. Trong chính cung đền Vua Lê có đặt tượng vua Lê Đại Hành ngồi trên ngai vàng, mang dáng dấp vơ tướng; bên phi là tượng Lê Long Đĩnh, bên trái là tượng Dương Văn Nga xiêm y lộng lẫy, nét mặt thanh tú.

Lăng vua Đinh Tiên Hoàng đặt trên đỉnh Mă Yên Sơn, giữa chỗ hơi vơng xuống, h́nh yên ngựa, khá rộng răi bằng phẳng. Đường lên sơn lăng có gần 300 bậc đá cheo leo. Lăng xây bằng đá tảng, có bệ thờ lư hương cũng bằng đá. Trước lăng là tấm bia lớn ghi "Đinh triều Tiên Hoàng đế chi Lăng". Lăng vua Lê Đại Hành đặt ở phía Nam chân núi Mă Yên, cũng xây bằng đá, trước lăng có bia. Hai bên lăng có hai quả núi nhỏ, ứng với thế "Rồng chầu hổ phục".

Đứng bên lăng vua Đinh Tiên Hoàng trên đỉnh núi Mă Yên Sơn có thể nh́n bao quát toàn cảnh khu di tích cố đô Hoa Lư với núi cao trùng trùng điệp điệp vây quanh; ở giữa là ḍng Hoàng Long có ngọn Kiếm Lĩnh (núi cắm Gươm) gắn với sự tích Đinh Tiên Hoàng hồi c̣n là chú bé chăn trâu thường cùng bọn trẻ tập trận cờ lâu, một hôm đă mổ trâu của chú để khao quân. Chú giận, cầm gươm đánh đuổi, chú bé Đinh Bộ Lĩnh đă chạy thẳng tới ven sông, nhảy xuống nước và có rùa vàng nổi lên đỡ sang bờ bên kia. Ông chú sợ quá, cắm gươm xuống đất, kinh hăi sững sờ nh́n theo... Ven sông là rộng đồng chia "như bàn cờ". Dưới những lùm cây xanh tốt um tùm vây quanh chân núi, thấp thoáng ẩn hiện những lớp mái rêu phong của các đền miếu cổ xưa.

Hàng năm, để tưởng nhớ công lao người anh hùng đă dựng nền thống nhất độc lập cho đất nước, nhân dân vùng Trường Yên - Hoa Lư tưng bừng mở hội vào ngày mồng 10 tháng Ba (âm lịch) là ngày sinh của Đinh Tiên Hoàng. Người bốn phương kéo về dự hội rất động. Hội có lễ dâng hương, có tổ chức lễ dâng hương, có tổ chức nhiều tṛ chơi chỉ mang tinh thần thượng vơ như đồng diễn "Cờ lau tập trận" xếp chữ "Thái B́nh" (Thái B́nh là niên hiệu đầu tiên và duy nhất của Đinh Tiên Hoàng), đua thuyền, đấu vật, rước rồng v.v..., kéo dài tới ba bốn ngày.

BÍCH ĐỘNG TAM CỐC

Khu di tích thắng cảnh nổi tiếng thuộc địa phận Hà Nam Ninh, nằm trong rặng núi đá vôi Trường Yên, gần khu di tích Hoa Lư. Thăm Bích Động ngồi trên con thuyền nhỏ chầm chậm di chuyển trên làn nước trong xanh in bóng mây núi, luồn lách dưới những mái đá phủ thạch óng ánh muôn màu, lướt qua những vách đá cao ngất c̣n ghi lại những vần thơ tức cảnh lưu đề của người xưa, chúng ta cảm thông sâu sắc với ư tưởng nghệ thuật của Trần Nhân Tông (1279-1293) trước vẻ đẹp tuyệt trần của thiên nhiên

Tứ biên sơn nhiễu thuỷ bồi hoàn.
Sơn thuỷ như đồ cảnh tự nhiên.

(Bốn bề núi vây bao bọc, nước quanh co, sông núi như tranh, phong cảnh đẹp tự nhiên).

Bích Động xếp hàng thứ hai sau động chùa Hương Tích (Nam thiên đệ nhị động), được gọi là "Nam thiên đệ nhị động" (Động đẹp thứ nh́ dưới trời Nam). Phía trước động là đồng lúa rộng mênh mông, có chi nhánh sông Hoàng Long chảy qua, uốn khúc quanh năm ngọn núi quây quanh thành cụm như đoá hoa sen. Trên núi cây cối xanh um, thấp thoáng ẩn hiện những vạt mái ngói rêu phong của ngôi chùa cổ. Chùa Bích Động được dựng với quy mô lớn từ đầu thời Lê. Trong chùa c̣n qua chuông đúc lớn đúc từ Thời Lê Thái Tổ (1428-1433), mộ tháp các vị hoàng thượng có công xây dựng của Chùa. Thời Cảnh Hưng (Lê Hiển Tông 1740-1786) chùa được trùng tu mở rộng thêm, bao gồm chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, trải ra trên ba tầng núi. Vào chùa Hạ phi qua một cầu đá ba nhịp. Chùa được xây bằng đá tảng mài nhẵn trên khối nền kè đá cao tới gần 2m, trông khá bề thế. Cột thềm, lan can... chủ yếu đều được tạo dựng bằng chất liệu đá. Mái chồng lợp ngói mũi hài to bản; Hai bên là hai toà giải vũ; phía trước là sân ngạch rộng và phương đ́nh. Bên trái Chùa Hạ có lối đi lên Chùa Trung, đục đá thành bậc, mát rượu dưới tán lá cây lưu niệm. Chùa Trung nằm kề cửa động, trên vách đá có khắc hai chữ hán "Bích Động" cực lớn. Phía bên trái có tấm bia "Bích Sơn thiền tự bi" (Bia Chùa Bích Sơn) dựng thời Lê Dụ Tông (1705-1729); phía bên phi là tấm bia thời cảnh Hưng, tạc ngay vào sườn núi. Từ Chùa Trung, trèo 22 bậc đá nữa, qua Hang Tối có chuông cổ, tượng Phật bằng đồng, qua cổng đá cuốn, sẽ lên tới chùa Thượng. Chùa dựng trên điểm cao chót vót gần đỉnh núi, đă đổ nát, chỉ c̣n lại mấy cột đá đứng chơ vơ giữa những cây đại cổ thụ. Đứng trên nền chùa Thượng có thể ngắm nh́n toàn cảnh Bích Động, như bức tranh sơn thuỷ tuyệt đẹp, trải rộng ra trước mắt.

Gần Bích Động là động nước Tam Cốc, đền Thái Vi và khu Hành cung - Vũ Lâm đời Trần. Từ Bích Động đến Tam Cốc tuy gần nhưng chỉ có đường thuỷ. Ḍng sông nhỏ, nước xanh thẫm, in bóng vách núi hoa rừng, đến núi Kiểu th́ thắt hẹp lại, luồn qua ba cái hang (Tam Cốc): Hang Cả, Hang Hai, Hang Ba. Trong hang nhiều nhũ đá, lóng lánh đủ màu sắc, lại như pha lẫn kim nhũ, ngân nhũ dưới ánh đèn đuốc. Không khí trong hang mát lạnh. Vua Trần Thái Tông (1255-1258) đă ví nơi đây với chốn non tiên.

Thuỷ thức Bồng Lai nguyên bất viễn
Thung dung tuế nguyệt độn phàm trần

(Đến đây mới biết cảnh tiên chốn Bồng Lai đâu có xa; ngày tháng thong dong xa lánh cơi phàm trần). Nhà vua đă dựng một am nhỏ trên mảnh đất cao gần Hang Cả làm nơi tu hành. Nơi đây vẫn c̣n di tích một khu đất rộng khoảng hơn một sào, cao hơn mặt ruộng tới trên một mét, nước lên cũng không bị ngập, được gọi là Vườn Am, Hang Cả trong Tam Cốc tuy đẹp nhưng khuất nẻo, không tiện đi lại, nên về sau nhà vua lại dời am ra đất Vũ Lâm, địa thế hiểm trở, có sông núi bao bọc nhưng thuận đường giao thông thuỷ bộ, cách Thăng Long khoảng 100 cây số - một địa điểm thích hợp cho việc tu hành, đồng thời cũng lại phù hợp với yêu cầu xây dựng hậu cứ để đề pḥng t́nh thế bất trắc. Chúng ta không nên quên rằng Trần Thái Tông lúc đó tuy đă khoác áo sa nhưng vốn là ông vua có tài thao lược, đă từng lănh đạo quân dân thời Trần đập tan cuộc sâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông. Nhà vua đă cho dựng am Thái Vi đă thành nơi hành cung. Nhiều cuộc họp quan trọng của triều đ́nh, dưới sự chủ tŕ của Trần Thái Tông (với cương vị là Thái Thượng Hoàng) đă được tổ chức ở chính nơi đây. Câu đối ở đền Thái Vi (dựng sau này trên đền Thái Vi) cho ta biết ở nơi đây đă từng chứng kiến cảnh văn vơ bá quan, áo mũ uy nghi, tới lui tấp nập. Cũng như ở phủ Thiên Trường (nơi phát tích của nhà Trần), nơi đây cũng đă từng có nhiều phủ đệ của các vương hầu. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai (1285), khu Hành Cung - Vũ Lâm trở thành căn cứ địa vững chắc của quân dân đời Trần.

Trải qua một địa bàn khá rộng, khu di tích Hành Cung - Vũ Lâm bao gồm nhiều xă thuộc huyện Hoa Lư (tỉnh Hà Nam Ninh) ngày nay, với nhiều địa danh gợi nhớ lịch sử như: Cửa Quan, Hành Cung, Cống Rồng, Tuân Cáo, Vườn Kho v.v... Di tích am Thái Vi hiện c̣n đến nay là một khu đất rộng khoảng sâu sào, xung quanh có luỹ đất, ở giữa là ngôi đền thờ Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Hiền Từ Hoàng Thái hậu, có tượng đồng đặt trong hậu cung.

Do địa thế kín đáo, thuận lợi, vùng Tam Cốc - Bích Động đă từng là căn cứ hoạt động cách mạng trước cách mạng tháng Tám 1945, trong kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ, nhiều hang động nơi đây đă trở thành địa điểm trú quân, hội họp đặt công binh xưởng, trạm quân y, kho lương thực hàng hoá v.v...

§i Cuc Phuong
§éng Tam Coc
§éng Tam Coc

 

 

 

 

 

[Trang chu][Tranh anh][Gioi thieu cong ty][Noi ®en][Dieu kien tham gia][ Danh lam thangcanh ]

[Du lich trong nuoc ][ Du lich Trung Quoc][ Du lich Thailan ][Du lich Campuchia]

 

Copyright 2000- 2005,  Sinhcafe Travel Vietnam Opentour

All rights reserved